• Trang chủ
  • Suy Niệm
  • Đức Mẹ – Chư thánh
  • Tản mạn – Triết học
  • Học Thánh Kinh
  • Thi ca
  • LÒNG THƯƠNG XÓT
  • Liên Hệ
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Suy Niệm
  • Đức Mẹ – Chư thánh
  • Tản mạn – Triết học
  • Học Thánh Kinh
  • Thi ca
  • LÒNG THƯƠNG XÓT
  • Liên Hệ
No Result
View All Result
No Result
View All Result
Home Tản mạn - Triết học

VẤN ĐỀ TRUYỀN GIÁO – LÀM SAO CHO DÂN TỰ TÌM ĐẾN CHÚA?

Nhóm Radiolctx by Nhóm Radiolctx
4 Tháng 2, 2026
in Tản mạn - Triết học
0
141
SHARES
404
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

THAO THỨC…

Người ta từ các vị ngồi “ngôi cao” đến các sinh hoạt của các nhóm, nói hay hơn hát: ‘Đi ra vùng ngoại biên’, nhưng có giáo phận thậm chí không có ban hay chương trình đi truyền giáo…

các vị quản sở lo “cai quản” xứ mình, mà xung quanh xứ đầy làng lương dân, thậm chí có các đấng các bậc còn “làm khó” các hội, các hiệp hội, các dòng lo việc truyền giáo…

Chúa Nhật 29 Thường Niên, lại họp bàn, lại đại hội: “hãy đi rao giảng…”. Hằng năm các đại hội giới trẻ cấp giáo phận rồi giáo tỉnh với các băng rôn và cử điệu: “Hãy đi ra vùng ngoại biên…”

Nhưng con số thống kê hàng năm về số người tín hữu thêm, thì… phần lớn do người công giáo sinh con, do các đôi hôn phối mà có thêm người rửa tội để lấy vợ lấy chồng, còn truyền giáo thì… rất rất ít.

Có thêm các giáo điểm và giáo họ, đều do người giáo dân đến vùng đất mới lập nghiệp dần dần phát triển thành, hay là giáo xứ đông giáo dân tách ra.

Thêm những giáo xứ mới phần lớn là vì nhu cầu nhiều linh mục quá nên đẩy các giáo họ lên độc lập, chuẩn giáo xứ… để cho linh mục có nơi ở mà cai quản.

Có giáo phận lâu đời, nằm trong một tỉnh ‘rất là Vinh’, nhưng hơn một nửa tỉnh đó (ở vùng núi) chưa có bóng dáng một người công giáo…

vân vân và vân vân…

 

+++

 

VẤN ĐỀ TRUYỀN GIÁO

LÀM SAO CHO DÂN TỰ TÌM ĐẾN CHÚA?

 

Có lẽ trong việc truyền giáo, người thực hiện hầu hết nặng tính cơ chế và có phần áp đặt từ một phía, nghĩa là khá gò bó trong cơ cấu phẩm trật và phép tắc, phương pháp thì lo giảng lo dạy đạo, làm từ thiện thu hút, thậm chí đem lương thực tiền bạc lôi kéo… nhưng mấy ai có thể làm cho đối tượng tự thắc mắc về đạo và tự nguyện tìm đến để học hỏi về Chúa. Trong mọi cách đều có thành công nhất định, nhưng cũng nhiều bất cập và hiệu quả không cao:

– Cứ đến là giảng là dạy. Cách này hiện nay hiệu quả rất thấp, vì như mang tính áp đặt mà thiếu lắng nghe, không biết gì về tín ngưỡng, văn hóa và đời sống của đối tượng.

– Thu hút bằng các chương trình từ thiện. Với thời đại mạng xã hội, dễ bị thao túng, lạm dụng, khoe khoang, lăng xê… và đối tượng nảy sinh nghi ngờ, chẳng biết do động lực nào, vinh danh ai?

– Dùng vật chất để lôi kéo. Những nơi khó khăn khi còn có tiền của cho thì người ta tin theo, đến lúc hết thì đạo cũng thôi, người ta vì cái ăn chứ không phải vì yêu mến. Cách này thành công nhanh thì thất bại cũng nhanh không kém.

– Đồng hành trong cuộc sống và công việc. Người truyền giáo đến ở lại nơi vùng xa, đồng hành trong các công việc và nơi làm việc, thậm chí trong các bữa ăn, quán nước… Làm quen thân thiện trước, dần già tìm cơ hội nói về đạo cho họ. Cách này tuy chậm, đòi hỏi sự dấn thân hết mình nơi các người đi truyền giáo, nhưng nay khá thành công.

Cha T và cha khác ở Sơn La (Giáo phận Hưng Hóa) khởi đầu bằng cách đến từng bản làng, vào một nhà nào đó tiếp cận làm quen, ban đầu thì giúp cho họ biết ngăn nắp và vệ sinh nhà cửa, vì ở các bản, bên trong một căn nhà vừa là chỗ để ăn uống, tiếp khách, thay quần áo, ngủ nghỉ, nấu ăn, không hề có vách ngăn hay màn che, bề bộn lộn xộn và rất bẩn. Sau khi đã thân thiện, các cha nhờ gia đình đã quen đi mời những gia đình xung quanh mỗi tuần một buổi (thường là buổi tối) tập trung về nhà mình, nghe các cha nói chuyện về cách cải tạo đời sống an sinh, văn hóa, môi sinh, rồi dần dần nói chuyện về đạo, những câu giáo lý sơ cấp, tập đọc chung những kinh nguyện cơ bản, dĩ nhiên sau những buổi sinh hoạt có kèm theo ăn nhẹ (bánh kẹo, uống nước…). Và khi đã hình thành được một nhóm nhỏ, những buổi gặp gỡ này các cha sẽ cử một thầy hay một Giáo Lý Viên đến đọc kinh, đọc Lời Chúa, suy niệm và cầu nguyện, cho đến khi có thể, các cha sẽ sửa một căn phòng tại ngôi nhà của gia đình đóng cửa cẩn thận và xứng đáng để thỉnh thoảng đến dâng lễ…

 

– Làm cho người ta tự tìm đến với đạo?

Có lẽ cách này được coi là không chính thống, bởi người ra đi không phải là người truyền giáo chính danh; nhóm làm việc này cũng không thực sự là nhóm vì không đăng ký thành lập phép đạo cũng như phép đời mà chỉ âm thầm liên kết với nhau qua mạng để đi làm việc bác ái; thành viên của nhóm là bất kỳ ai: sinh viên, học sinh, nhân viên bán hàng, nhân viên quán café…; cũng không có một phương pháp nào cụ thể mà là tùy cơ ứng biến trong từng hoàn cảnh và tình huống: không rao giảng, không nhất thiết làm từ thiện, không dùng vật chất lôi kéo… nhưng khi có được một đối tượng nào cảm kích muốn tìm hiểu về đạo, họ sẽ liên hệ gửi cho nơi giáo xứ hoặc nhà dòng nào đó đang có lớp dự tòng thích hợp giờ giấc đối tượng có thể học, và chẳng cần ai biết đến công lao của họ sau từng kết quả.

Và đã từng có một nhóm như thế. Thành viên âm thầm hoạt động dưới sự hướng dẫn qua Email của một huynh trưởng mà các thành viên gọi là “huynh”. Con số thành viên nay đã khá đông, thành viên phần lớn là sinh viên và nhân viên quán café, ít nhất mỗi tỉnh thành có vài thành viên, phần nhiều có mặt ở Sài Gòn và Hà Nội. Các thành viên không tự đi tìm kiếm đối tượng, mà là phát hiện những tình huống “bất thường” nơi họ làm việc hay nơi học đường, rồi tìm cách tiếp cận để tìm giải pháp cho đối tượng, khi tình huống chính họ khó xử, thì họ có thể liên hệ với các thành viên gần nhất để cùng tìm phương cách. Tuy nhiên, dù không đi tìm kiếm, nhưng những ngày cuối tuần được nghỉ nơi học đường, một số thành viên cũng có thể đi tìm những công việc phục vụ giúp những người già nua neo đơn.

Dưới đây là một vài ví dụ điển hình mà nhóm đã thực hiện:

Trường hợp 1: Tại GV, có bạn A… và T…, cuối tuần, hai em đã tìm đến nhà của một cụ bà neo đơn bệnh tật, các em chỉ vào dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo và đi chợ mua đồ ăn giúp bà. Các em không giảng dạy hay khuyên răn gì cả, nhưng rồi vì thấy các em tự nguyện đến phụ giúp cách vui vẻ công không như vậy, bà đã hỏi thăm các em, biết các em là “người con Chúa”, bà đã xin được nói về Chúa cho bà… Kết quả là khi gần chết, bà đã được cha sở gần đó rửa tội và ban bí tích sau hết.

Trường hợp 2: Hôm đó, tại quán café M.C.&T… bé KT thấy một thanh niên chạy xe Grab Bike ngồi uống café một mình, nghe điện thoại mà bé KT nghe đoán được ai đó hẹn giao cái gì đó rất bí mật (hàng cấm) lúc mấy giờ ở phía sau nhà xe NL…? Bé KT liền tiếp cận anh ta, vận dụng hết cái “dễ thương” của em để làm quen, rồi nụng nĩu đòi anh ta phải chở em đi về Coop… Quận 7, vì bé biết rằng, quãng đường từ Bến xe Miền Đông về Quận 7 đủ để làm cho anh grab trễ giờ. Anh này có lẽ do bị hút hồn bởi người đẹp nên sẵn sàng chở đi ngay, dọc đường bé KT còn bày cách dừng chỗ này chỗ kia nhằm câu giờ. Đến nơi, anh grab vẫn chưa thấy bên kia gọi đt, anh tạm biệt bé KT và xin số điện thoại của bé, bé cho số và nói chỉ gặp lại nếu anh vứt ngay cái sim đt đang xài và thoát một kiếp nạn sau đó. Và sự việc đã xảy ra là hôm đó cái nhóm giao ma túy kia đã bị công an mật phục bắt gọn… Thế rồi, họ đã gặp lại nhau và người thanh niên sau khi biết lý do bé KT quen anh để giúp anh bởi bé là “người có đạo”. Tò mò, cảm kích, rồi xin học đạo… anh đã được giới thiệu theo học lớp dự tòng ở Kỳ Đồng.

Trường hợp 3: Tại trường Đại học X… ở Sài Gòn, có anh sinh viên tên A… là trưởng lớp, học giỏi và năng động. Bỗng nhiên anh tỏ ra suy sụp, uể oải, học hành sa sút và cáu gắt khác thường. Với sự nhạy bén, bé TD là sinh viên cùng lớp đã tiếp cận và biết được sự tình: Chuyện là anh A… có bạn gái ở một vùng xa dưới Bình Dương, mỗi cuối tuần anh chạy xe máy về BD thăm người yêu. Nhà bạn gái anh là một gia đình gia giáo và còn nặng tính phong kiến, ngoài bố mẹ còn có ba chị em, hai gái một trai. Anh A… yêu D… là chị cả, mỗi lần chạy xe máy từ SG về BD thăm cô D…, anh D… có thói quen cứ đến nhà là vào ngay nhà vệ sinh để rửa trước khi ra ngồi tiếp chuyện, căn nhà ông bà S thiết kế nhà vệ sinh đa năng (rửa, tắm, WC 3in1). Anh A… vốn yêu thề non hẹn biển với chị D, nhưng đến nhà nhiều anh cũng không hay biết là cô em của D cũng thầm yêu anh và nhiều lần tìm cách tiếp xúc với anh. Thế rồi một ngày như bao lần trước, anh đến và đẩy cửa nhà tắm vào rửa tay, thì gặp cô em đang tắm (không biết vô tình hay hữu ý mà không cài cửa), anh A… bỏ ra ngoài, một lát sau cô em mặc đồ đi ra và ngồi khóc. Chuyện khó xử này làm cho anh không biết đối mặt làm sao với bạn gái (là cô chị) và bố mẹ của bạn gái. Trở về SG, anh bỏ ăn bỏ ngủ và học lực sa sút… Và bé TD đã lắng nghe anh, nhưng chính bé cũng không biết phải làm thế nào, bé đã liên hệ nhờ “huynh trưởng” giúp, và ông chú sư huynh này đã xuống tận nhà, tư vấn tâm lý cho mọi người vượt qua rào cản của ý thức hệ xã hội và hóa giải êm thuận chuyện tình yêu cho cặp đôi… Kết quả cuối cùng là nay có một gia đình tân tòng đạo đức ở PC.

Trường hợp 4: Tại NG, một TT thuộc tỉnh BRVT, có bé PN. Bé là con gái trong một gia đình truyền thống làm giáo viên. Bé có chú ruột là GV của ĐH ở SG, anh trai cũng là giáo viên. Cả gia đình và thậm chí dòng họ và cả cô Chủ Nhiệm 12 đều mong muốn bé nối nghiệp nhà giáo, hoặc chọn thi vào trường ĐH nào đó khi ra trường không phải làm việc nặng nhọc về tay chân, vì bé là cô gái bé bỏng, có phần yếu ớt và xinh xắn. Thế nhưng, bé PN quyết tâm chọn vào đại học Nông Lâm (mà theo lý giải của gia đình thì sau này ra trường chỉ đi trồng và cạo mủ cao su). Thế rồi, bé thi trượt ĐHNL. Bé trở về, thay vì an ủi động viên bé sau cú sốc đầu đời, thì từ bố mẹ, anh chị,  họ hàng đến cô chủ nhiệm đều lên án, trách móc và thậm chỉ mắng chửi. Bé rơi vào trầm cảm và hơn một lần đã trốn ra cầu Cỏ May để quyên sinh, nhưng bị phát hiện bắt về. Rồi gia đình sợ bé liều mình nữa, nên nhốt trong phòng và bắt thằng út trông chừng. Từ đó, bé trở thành lầm lì, trở thành người câm điếc, không bao giờ nói hay trả lời ai, bức xúc cào cấu đứa út. Biết chuyện, chính “huynh trưởng” đã đến thăm. Ban đầu bé xua đuổi ném gối tạt cả ly nước vào huynh, nhưng huynh đã dùng phương pháp “đổ hết nước trong ly lòng cô đã đầy, mới rót những gì mới vào được”, nghĩa là huynh trở thành cái giỏ rác cho bé trút hết sự dồn nén bấy lâu vào, và khi để bé nói ra được hết sự ấm ức thì đã thành công 50% rồi. Sự thật là, huynh đã lắng nghe cho bé nói ra hết sự thất bại của bé, sau đó huynh “bịa” ra câu chuyện cuộc đời của huynh từng thất bại gấp ba lần của bé, kích thích bé tò mò cách huynh vượt qua, và làm cho bé có động lực đứng lên sau thất bại. Vấn đề là sau tất cả, cha mẹ và mọi người đã biết họ sai, nhưng bé căm giận không cho họ cơ hội để tiếp cận xin lỗi và sửa sai với bé. Lúc này, huynh đã chỉ cho bé “còn trẻ thua keo này ta bày keo khác”, khuyên bé xin bố mẹ lên Sài Gòn một thời gian cho khuây khỏa, vào xin ở lưu xá sinh viên, đăng ký làm công việc gì đó không quan trọng tiền lương cao thấp (vì gia đình bé có điều kiện), rồi tận dụng ôn thi năm tới. Kết quả là huynh gửi bé vào lưu xá các sinh viên công giáo (của các soeur) ở TĐ, ở chung với các em CG, bé tập đọc kinh, dự lễ chung… và nay bé PN đã “có đạo” và còn là một mini-soeur…

 

Trích ra mấy trường hợp trong nhiều nhiều tình huống không có mẫu số chung, cho thấy cách “truyền giáo” này không có một phương pháp nhất định, tự do sống chứng nhân mà không bị một cơ chế nào gò bó, cũng không rao giảng cho ai để phải “có phép”, bị cho là phô trương hay lạc đạo. Họ chỉ làm những gì lương tâm thúc đẩy trong lúc đó phải làm, rồi để đối tượng tự cảm kích, tự hỏi và tìm đến với Chúa (nơi những lớp dự tòng “có phép”).

 

Nói là không phương pháp, nhưng ít nhất, có 3 cách tiếp cận:

– Thay thế: Ly nước đã đầy thì rót gì vào cũng trào ra, phải đổ hết nước cũ trong ly mới rót cái mới vào được. Tâm hồn đối tượng đã dồn nén quá đầy, không giúp họ xả ra thì không thể giúp họ.

– Lấn át: Những tệ nạn và điều xấu như cỏ gấu rễ cắm sâu dưới lòng đất không dễ gì nhổ hết được vì rễ cỏ đứt ở dưới lại mọc lên cách mãnh liệt hơn, chỉ bằng cách trồng cây khoai lang mạnh hơn phủ kín đất và lấn át dần làm chết. Chừa tội vốn khó, nhưng tập nhân đức sẽ lấn át… (Hiện nay các cha xứ và các cha lo về giới trẻ hay áp dụng, dùng những môn thế thao lành mạnh làm cho lớp trẻ lo tập luyện và thi đấu mà quên đi những tệ nạn).

– Tiệm tiến: Dục tốc bất đạt. Nếu cầm xô nước trút mạnh vào thau thì nước tung tóe ra ngoài chỉ vào được thau tầm phân nửa, nhưng đổ từ từ thì thau sẽ đầy nước. Cần kiên nhẫn từ từ, kết quả rồi sẽ đến. Phao-lô trồng, A-pô-lô tưới, Chúa làm cho lớn lên.

…

Ai còn cách nào hay xin viết tiếp…

 

Hiền Lâm

 

xt: https://tinmungmoingay.com/cach-loan-bao-tin-mung-cho-nhung-anh-chi-em-thuoc-ton-giao-khac-tai-viet-nam/

 

Một bài viết khác:

GIÁO HỘI VIỆT NAM ĐỐI DIỆN MỘT NGHỊCH LÝ ƠN GỌI
Trong khi Giáo Hội hoàn vũ đang phải vật lộn với sự suy giảm nghiêm trọng các ơn gọi, thì Giáo Hội tại Việt Nam lại đối diện một thách đố rất khác: làm sao biến sự dồi dào linh mục thành những nhà truyền giáo đích thực, chứ không chỉ là những “linh mục xứ”.
Tháng Giêng vừa qua, Giáo Hội Công giáo Việt Nam đón nhận 76 phó tế chuyển tiếp mới, dự kiến sẽ được truyền chức linh mục trong vòng một năm. Điều đáng chú ý là các phó tế này chỉ đến từ năm giáo phận và một dòng tu, trong tổng số 27 giáo phận và 83 hội dòng nam trên toàn quốc.
Việt Nam thường được gọi là “vựa ơn gọi” của Giáo Hội châu Á, với 11 đại chủng viện và các hội dòng mỗi năm đào tạo hàng trăm linh mục. Tổng cộng, khoảng 6.000 linh mục và 31.000 tu sĩ nam nữ đang phục vụ gần bảy triệu tín hữu Công giáo – những con số không chỉ ấn tượng mà còn là niềm tự hào.
Tuy nhiên, đằng sau những thống kê bắt mắt ấy là một nghịch lý đáng lo ngại: dư thừa những “nhà cung cấp dịch vụ bí tích”, nhưng lại thiếu trầm trọng tinh thần truyền giáo để vươn tới các “vùng ngoại biên”.
Dư thừa các nhà quản trị tôn giáo
Tại các đô thị lớn, không khó để thấy hai hoặc ba linh mục cùng phục vụ một giáo xứ. Trong những “vùng an toàn” này, đời sống linh mục thường xoay quanh quản trị hành chính, cử hành mục vụ, tổ chức các lễ hội hoành tráng và giám sát việc xây dựng cơ sở nhà thờ.
Trái lại, tại Tây Nguyên và các vùng Tây Bắc, nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số phải chờ vài tháng mới có một Thánh lễ. Các linh mục địa phương phải vượt hàng trăm cây số đường núi hiểm trở để đến những nhà nguyện đơn sơ, lợp mái tranh.
Sự phân bổ thiếu cân đối ấy phản ánh một khủng hoảng căn tính sâu xa. Một linh mục cao niên nhận xét rằng nhiều linh mục trẻ xuất thân từ các gia đình nhỏ, hiện đại – lớn lên trong đầy đủ và ít va chạm với gian khó – gặp khó khăn khi phải sống và phục vụ trong môi trường khắc nghiệt. Với họ, việc được sai đến các trạm truyền giáo xa xôi thường không được nhìn như một hồng ân, mà như một hình thức “lưu đày” hay trừng phạt.
Truyền thống văn hóa Việt Nam vốn tôn kính linh mục như một “thầy cả” cũng góp phần làm vấn đề thêm phức tạp. Cái bệ văn hóa ấy dễ dẫn đến việc tìm kiếm quyền lực và uy tín hơn là phục vụ khiêm tốn. Hệ quả là tâm lý “an phận tại chỗ”: thích ở yên trong khuôn viên giáo xứ hơn là dấn thân vào những bất định của cánh đồng truyền giáo.
Khủng hoảng căn tính truyền giáo
Căn tính cốt lõi của linh mục không chỉ là người phân phát các bí tích, mà là một nhà truyền giáo. Đức Kitô không truyền cho các môn đệ ở lại trong Đền Thờ để quản lý tài chính; Người sai các ông “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15).
Thực tế tại Việt Nam hôm nay cho thấy sự vắng bóng rõ rệt của Giáo Hội giữa những người chưa biết Chúa. Trong khi hàng giáo sĩ tổ chức nhiều sinh hoạt cho những người “đã tin”, thì lại thiếu sự tiếp xúc đích thực với xã hội rộng lớn hơn.
Thứ “Công giáo hướng nội” này khó có thể đối diện với những thách đố mới của xã hội Việt Nam: một nền văn hóa giới trẻ bị cuốn vào chủ nghĩa làm việc quá độ, sự suy giảm đức tin, và các căn bệnh xã hội như ly hôn hay nghiện ngập.
Khủng hoảng này cũng mang tính cơ cấu. Nhiều linh mục khao khát ra đi đến vùng ngoại biên lại bị ràng buộc bởi giới hạn giáo phận, thiếu cơ chế “sai đi” rõ ràng và thiếu hỗ trợ tài chính. Hệ thống hiện tại chưa đủ linh hoạt để Giáo Hội thực sự có thể “ra khơi”.
Đào tạo cần được cải tổ khẩn cấp
Để các con số ấn tượng không trở thành những “thống kê vô hồn”, Giáo Hội địa phương cần một cuộc cải tổ sâu rộng hệ thống đào tạo tu trì kéo dài mười năm, vốn vẫn nặng về triết học và thần học học thuật nhưng thường thiếu việc hình thành “trái tim truyền giáo”.
Một chủng sinh có thể học giỏi, nhưng nếu chưa từng sống giữa người nghèo, chưa từng lắng nghe những vật lộn của những người ở bên lề, thì sẽ thiếu “mùi chiên” mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng kêu gọi.
Việc nhấn mạnh đến linh đạo truyền giáo, hội nhập văn hóa và đối thoại liên tôn còn quá ít. Các kỳ thực tập mục vụ thường chỉ diễn ra tại những giáo xứ ổn định, quen thuộc, thay vì tại các khu ổ chuột hay vùng sâu vùng xa – nơi đức tin bị thử thách bởi nghèo đói và vô thần.
Trong thời đại kỹ thuật số, các “vùng ngoại biên” cũng mang tính trực tuyến. Chủng sinh cần được đào tạo để sử dụng mạng xã hội như một công cụ loan báo Tin Mừng, học sống như những “nhà truyền giáo của hy vọng”, học ngôn ngữ các dân tộc và dấn thân vào các hoạt động xã hội để thấu hiểu nỗi đau của con người.
Lời mời gọi hoán cải mục vụ
Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chọn năm 2026 là năm “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ truyền giáo”. Đây là cơ hội vàng để hàng giáo sĩ thực hiện một “cuộc hoán cải truyền giáo”.
Trọng tâm phải được chuyển sang việc đặt tinh thần truyền giáo làm trục chính của đời linh mục: “Linh mục là người được sai đi, chứ không phải người bị giữ lại.”
Mỗi giáo phận cần có kế hoạch “trao tặng”, chứ không chỉ “cho mượn”, các linh mục cho những vùng đang thiếu thốn trong nước hoặc ra nước ngoài, như Mông Cổ, Lào và Campuchia.
Các linh mục tại đô thị cần mang lấy trái tim truyền giáo, vươn tới những người không đến nhà thờ và hiện diện trong các lãnh vực như giáo dục, văn hóa và truyền thông.
Nếu Giáo Hội chỉ dựa vào linh mục, thì sẽ luôn thiếu nhà truyền giáo. Linh mục phải trở thành những người huấn luyện, trao quyền cho giáo dân làm chứng cho Tin Mừng trong đời sống hằng ngày.
Một Giáo Hội sống động không được đo bằng chiều cao tháp chuông hay số lượng truyền chức, mà bằng khoảng cách các thừa tác viên sẵn sàng đi để chạm tới những người đang ở trong bóng tối.
Những thợ gặt đích thực không phải là những người ở yên trong kho lẫm an toàn, mà là những người dám đối diện phong ba để ra đồng làm việc.
Khi “vựa ơn gọi” của Giáo Hội châu Á có thể sản sinh ra những nhà truyền giáo thực thụ, chứ không chỉ là các nhà quản trị tôn giáo, thì Giáo Hội ấy mới thực sự trở thành một Giáo Hội truyền giáo.
Nguồn: UCA News – Petrus Do
Previous Post

Thơ ĐỌC và CẦU NGUYỆN theo TIN MỪNG mỗi ngày. MÙA THƯỜNG NIÊN. Hiền Lâm

Next Post

Bài giảng của Lm. Peter Lê Thanh Quang

Nhóm Radiolctx

Nhóm Radiolctx

Hãy dùng truyền thông để làm cho Niềm Vui Tin Mừng Chúa Ki-tô lan tỏa đến cho mọi người thời đại hôm nay (Hiền Lâm).

Related Posts

Tản mạn - Triết học

CÁCH DẪN VÀO THÁNH LỄ VÀ GIẢNG LỄ

21 Tháng 7, 2025
Học hỏi Thánh Kinh

SUY TƯ THẦN HỌC: THẬP GIÁ ƠN CỨU ĐỘ

14 Tháng 8, 2024
Tản mạn - Triết học

Tản mạn: Nói với người trẻ về ƠN GỌI THÁNH HIẾN

1 Tháng 10, 2024
Tản mạn - Triết học

Giải nghĩa: BẢY ƠN CỦA CHÚA THÁNH THẦN

10 Tháng 3, 2025
Tản mạn - Triết học

CÁCH TÍNH MÙA CHAY

6 Tháng 3, 2025
Tản mạn - Triết học

NGỤY BIỆN

6 Tháng 4, 2024
Next Post

Bài giảng của Lm. Peter Lê Thanh Quang

Discussion about this post

  • Trending
  • Comments
  • Latest

Trọn bộ 600 bài SUY NIỆM TIN MỪNG. Hiền Lâm

11 Tháng 1, 2026

Trọn bộ 305 BÀI SUY NIỆM MÙA THƯỜNG NIÊN

4 Tháng 10, 2025

GIÁO TRÌNH PHỤNG VỤ CĂN BẢN

19 Tháng 5, 2019

SƯ PHẠM GIÁO LÝ (căn bản)

14 Tháng 6, 2019

NHỮNG BÀI HÁT KỶ NIỆM 100 NĂM GIÁO XỨ LA NHAM

THÁNH KINH NHẬP MÔN quyển một, p.IV – Lược sử các giai đoạn Thánh Kinh (Hiền Lâm)

THÁNH KINH NHẬP MÔN quyển một, p.III – Chú Giải Thánh Kinh (Hiền Lâm)

THÁNH KINH NHẬP MÔN quyển một, p.II – Một số vấn đề Thánh Kinh (Hiền Lâm)

NHỮNG BÀI HÁT KỶ NIỆM 100 NĂM GIÁO XỨ LA NHAM

12 Tháng 4, 2026

Bài giảng của Lm. Peter Lê Thanh Quang

13 Tháng 4, 2026

VẤN ĐỀ TRUYỀN GIÁO – LÀM SAO CHO DÂN TỰ TÌM ĐẾN CHÚA?

4 Tháng 2, 2026

Thơ ĐỌC và CẦU NGUYỆN theo TIN MỪNG mỗi ngày. MÙA THƯỜNG NIÊN. Hiền Lâm

21 Tháng 3, 2026

Bài viết gần đây

NHỮNG BÀI HÁT KỶ NIỆM 100 NĂM GIÁO XỨ LA NHAM

12 Tháng 4, 2026

Bài giảng của Lm. Peter Lê Thanh Quang

13 Tháng 4, 2026

VẤN ĐỀ TRUYỀN GIÁO – LÀM SAO CHO DÂN TỰ TÌM ĐẾN CHÚA?

4 Tháng 2, 2026

Thơ ĐỌC và CẦU NGUYỆN theo TIN MỪNG mỗi ngày. MÙA THƯỜNG NIÊN. Hiền Lâm

21 Tháng 3, 2026
Tin Mừng. TV

Facebook: facebook.com/peter.dao.3557
Fanpage: facebook.com/hienthulamhoatinh
Email: anhdao803184@gmail.com
Địa chỉ: Lm. Pet. Nguyễn Hữu Đào (Hiền Lâm)

Follow Us

Bài viết gần đây

NHỮNG BÀI HÁT KỶ NIỆM 100 NĂM GIÁO XỨ LA NHAM

12 Tháng 4, 2026

Bài giảng của Lm. Peter Lê Thanh Quang

13 Tháng 4, 2026

Thống kê truy cập

1561539
Visit Today :
Visit Yesterday :
This Month :
This Year :
Who's Online :
  • Trang chủ
  • Suy Niệm
  • Đức Mẹ – Chư thánh
  • Tản mạn – Triết học
  • Học Thánh Kinh
  • Thi ca
  • LÒNG THƯƠNG XÓT
  • Liên Hệ

Facebook: facebook.com/peter.dao.3557 Fanpage: facebook.com/hienthulamhoatinh Email: anhdao803184@gmail.com Địa chỉ: Lm. Peter. Nguyễn Hữu Đào (Hiền Lâm)

No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Suy Niệm
  • Đức Mẹ – Chư thánh
  • Tản mạn – Triết học
  • Học Thánh Kinh
  • Thi ca
  • LÒNG THƯƠNG XÓT
  • Liên Hệ

Facebook: facebook.com/peter.dao.3557 Fanpage: facebook.com/hienthulamhoatinh Email: anhdao803184@gmail.com Địa chỉ: Lm. Peter. Nguyễn Hữu Đào (Hiền Lâm)